https://js.donga.edu.vn/index.php/daujs/issue/feedTạp chí Khoa học Đại học Đông Á2026-03-03T03:21:54+00:00Tạp chí Khoa học Đại học Đông Átapchikh@donga.edu.vnOpen Journal Systems<div id="text-124540630" class="text"> <p>Tạp chí Khoa học Đại học Đông Á là một tạp chí trực thuộc Trường Đại học Đông Á.</p> <p>Tạp chí được Bộ Thông tin và Truyền thông cấp Giấy phép hoạt động cho tạp chí in:<strong> Số</strong> <strong>625/GP-BTTTT</strong>, ngày <strong>22/09/2021.</strong></p> <p>Ngày <strong>28/04/2022</strong>, Tạp chí được Cục Thông tin khoa học và Công nghệ Quốc gia, Bộ Khoa học và Công nghệ cấp mã số chuẩn quốc tế ISSN (International Standard Serial Number) với dãy số ISSN: <strong>2815-5807.</strong></p> </div> <div id="text-3048248437" class="text"> <p>Các lĩnh vực nhận bài chính của Tạp chí Khoa học Đại học Đông Á bao gồm:</p> <ul> <li>Khoa học tự nhiên</li> <li>Khoa học kỹ thật và công nghệ</li> <li>Khoa học y, dược</li> <li>Khoa học nông nghiệp</li> <li>Khoa học xã hội</li> <li>Khoa học nhân văn</li> </ul> </div>https://js.donga.edu.vn/index.php/daujs/article/view/453Tutor AI: Phương pháp hướng dẫn từng bước cá nhân hóa trong các hệ thống học tập thích ứng2025-09-05T02:29:33+00:00Lâm Du ĐạtTrần Thành ThắngPhản hồi thích ứng theo ngữ cảnh vẫn là một thách thức quan trọng trong giáo dục, đặc biệt khi cần hướng dẫn người học giải quyết các bài tập phức tạp thuộc nhiều lĩnh vực khác nhau. Nghiên cứu này giới thiệu một khung hướng dẫn học tập theo từng bước có khả năng tổng quát hóa, sử dụng mô hình ngôn ngữ lớn (LLM) để hỗ trợ học tập thông qua phân rã nhiệm vụ thành các bước nhỏ, đánh giá tiến trình và sinh phản hồi phù hợp với trạng thái học tập của người học. Khung này được triển khai trong hệ thống Tutor AI và được thử nghiệm thực tế trong học phần Kỹ thuật lập trình. Trong môi trường này, sinh viên tương tác với hệ thống viết mã thời gian thực, lộ trình học tập được thiết kế rõ ràng và phản hồi được sinh tự động qua mô hình Gemini LLM. Mỗi bài làm được kết hợp động với lịch sử học tập của người học để hình thành prompt giàu ngữ cảnh, từ đó hệ thống xác định chính xác bước học hiện tại và cung cấp hướng dẫn thích ứng theo tiến trình. Kết quả thực nghiệm trong học kỳ của môn Kỹ thuật lập trình (ngôn ngữ C) đã minh chứng hiệu quả của hệ thống, giúp nâng cao đáng kể mức độ tương tác, thúc đẩy tinh thần tự học và giảm sự phụ thuộc của sinh viên vào các lời giải có sẵn. Kiến trúc của Tutor AI được thiết kế với tính tổng quát cao, cho phép mở rộng ứng dụng không chỉ trong lập trình mà còn sang nhiều lĩnh vực khác như kỹ thuật, phân tích dữ liệu, khoa học xã hội hay bất kỳ môn học nào có bài tập với các bước làm rõ ràng. Kết quả nghiên cứu này góp phần phát triển các hệ thống dạy học thông minh có khả năng diễn giải và mở rộng quy mô, đồng thời đặt nền tảng cho việc học tập theo từng bước được hỗ trợ bởi AI trong nhiều bối cảnh giáo dục hiện đại.2026-02-28T00:00:00+00:00Copyright (c) 2026 Tạp chí Khoa học Đại học Đông Áhttps://js.donga.edu.vn/index.php/daujs/article/view/521Nghiên cứu về dạy học sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả ở Việt Nam: Thực trạng và định hướng phát triển2025-12-20T09:50:16+00:00Nguyễn Xuân TrungNguyễn Trung HạoPhan Nhật HoàngBài báo này thực hiện đánh giá phạm vi (scoping review) các công bố khoa học về dạy học sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả (SDNLTKHQ) trong bối cảnh giáo dục Việt Nam giai đoạn 2006-2025. Dữ liệu được thu thập từ các nguồn khoa học trong nước và quốc tế, kết hợp truy vết tài liệu tham khảo, với chiến lược tìm kiếm sử dụng cả từ khóa trực tiếp và các nhóm khái niệm liên quan nhằm hạn chế bỏ sót nghiên cứu. Các công bố được sàng lọc theo hai bước và phân tích toàn văn dựa trên các tiêu chí xác định trước. Kết quả cho thấy chỉ có 9 công trình đáp ứng tiêu chí lựa chọn, chủ yếu tập trung ở giáo dục phổ thông, đặc biệt là môn Vật lý trung học phổ thông, với nội dung trọng tâm là sử dụng điện tiết kiệm. Phần lớn nghiên cứu mang tính mô tả, thiếu các thiết kế thực nghiệm và đánh giá tác động giáo dục. Nghiên cứu ở giáo dục nghề nghiệp, giáo dục đại học và các tiếp cận dựa trên giáo dục vì sự phát triển bền vững còn rất hạn chế. Trên cơ sở đó, bài báo hệ thống hóa thực trạng nghiên cứu, chỉ ra các khoảng trống học thuật và đề xuất một số định hướng nghiên cứu nhằm phát triển giáo dục SDNLTKHQ phù hợp với bối cảnh giáo dục Việt Nam.2026-02-28T00:00:00+00:00Copyright (c) 2026 Tạp chí Khoa học Đại học Đông Áhttps://js.donga.edu.vn/index.php/daujs/article/view/556Kinh tế ban đêm tại khu vực Đà Lạt: Nguồn lực phát triển kinh tế - xã hội tỉnh Lâm Đồng2026-01-26T04:29:55+00:00Phan Văn BôngKinh tế ban đêm ngày càng được xem là một trong những động lực thúc đẩy tăng trưởng du lịch và phát triển kinh tế đô thị tại nhiều quốc gia trên thế giới. Khu vực Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng sở hữu nhiều tiềm năng để phát triển kinh tế ban đêm nhờ vào lợi thế khí hậu, cảnh quan và sức hút du lịch đặc thù. Tuy nhiên, tương tự như nhiều khu vực đô thị khác tại Việt Nam, các hoạt động kinh tế ban đêm tại đây vẫn còn hạn chế và chưa được khai thác hiệu quả. Bài viết sử dụng các nguồn dữ liệu sơ cấp và thứ cấp nhằm phân tích thực trạng, đánh giá tiềm năng cũng như nhận diện các rào cản trong phát triển kinh tế ban đêm tại khu vực Đà Lạt. Trên cơ sở đó, tác giả đề xuất một số khuyến nghị nhằm thúc đẩy phát triển kinh tế ban đêm góp phần tạo nguồn lực cho phát triển kinh tế - xã hội Lâm Đồng trong thời gian tới.2026-02-28T00:00:00+00:00Copyright (c) 2026 Tạp chí Khoa học Đại học Đông Áhttps://js.donga.edu.vn/index.php/daujs/article/view/514“Con đường muối” trong hoạt động giao thương và tiếp biến văn hóa ẩm thực của các dân tộc thiểu số vùng Trường Sơn - Tây Nguyên2025-10-01T10:07:20+00:00Trần Tấn VịnhTrong suốt quá trình phát triển lịch sử, các dân tộc thiểu số sinh sống ở vùng núi Trường Sơn - Tây Nguyên nói chung và vùng cao Quảng Nam nói riêng đã dựa vào nguồn tài nguyên địa phương để sinh tồn. Nền kinh tế của họ theo truyền thống dựa trên sự tự cung tự cấp, trao đổi hàng hóa trong cộng đồng và buôn bán với các nhóm bên ngoài để mua các mặt hàng thiết yếu. Việc trao đổi hàng hóa giữa các cộng đồng vùng thấp và các dân tộc vùng cao đã có một lịch sử lâu dài, hình thành các trung tâm thương mại dọc theo bờ sông, đèo núi, và sau đó là các tuyến quốc lộ dẫn đến các bản làng xa xôi - mạng lưới này được gọi là “Con đường muối”. Dọc theo tuyến đường này, các mặt hàng như muối, nước mắm, cá khô, nồi đồng, cồng chiêng và chum được vận chuyển lên vùng cao, trong khi các sản phẩm lâm sản quý giá như ngà voi, mật ong, trầm hương, măng và nấm được đưa xuống các vùng ven biển. Sự trao đổi này đã tạo điều kiện cho các tương tác văn hóa, bao gồm cả sự thích nghi ẩm thực giữa các dân tộc. Mặc dù truyền thống ẩm thực của các cộng đồng dân tộc thiểu số này đã trải qua những thay đổi do ảnh hưởng bên ngoài, nhưng họ vẫn giữ được nét đặc trưng của di sản ẩm thực dân tộc mình.2026-02-28T00:00:00+00:00Copyright (c) 2026 Tạp chí Khoa học Đại học Đông Áhttps://js.donga.edu.vn/index.php/daujs/article/view/458Phim điện ảnh Lạc giới và sự đối thoại với những biểu tượng giới2025-10-15T07:21:11+00:00Lê Tuấn AnhBài viết tập trung phân tích cách bộ phim Lạc giới (2014) của Phi Tiến Sơn đã kiến tạo và diễn giải biểu tượng thông qua hai hình ảnh: sữa và con dê. Trên cơ sở vận dụng phương pháp phân tích diễn ngôn, biểu tượng học và lý thuyết queer, nghiên cứu nhận thấy các biểu tượng tưởng chừng quen thuộc nhưng lại tồn tại nhiều tầng nghĩa phức tạp về giới và quyền lực. Biểu tượng sữa luôn gắn liền với các công việc chăm sóc và sinh sản, phục dịch của người nữ, đồng thời sữa còn làm lung lay chuẩn mực nam tính khi đại diễn khắc họa nhân vật Hải luôn lệ thuộc vào sữa. Còn đối với biểu tượng con dê, bộ phim đã phản ánh sự áp đặt niềm vui sinh sản thành một thể chế lên cơ thể của “giống cái” và củng cố trật tự nam quyền, nhưng điều này cũng đã bị “queer hóa” khi mối quan hệ đồng tính xuất hiện. Tóm lại, chúng tôi muốn thông qua việc phân tích hai biểu tượng sữa và con dê sẽ làm rõ tính chất hai mặt của phim Lạc giới: một mặt khẳng định trật tự dị tính, mặt khác mở ra khả năng trình hiện cho người queer.2026-02-28T00:00:00+00:00Copyright (c) 2026 Tạp chí Khoa học Đại học Đông Áhttps://js.donga.edu.vn/index.php/daujs/article/view/448Thiên kiến và thói quen: Rào cản nhận thức chân lý theo John Locke2025-11-14T07:26:30+00:00Nguyễn Duy HậuBài viết này khám phá những ảnh hưởng của thiên kiến và thói quen tư duy đến khả năng nhận thức chân lý của con người, dựa trên các lập luận trong tác phẩm Con đường của sự hiểu biết của John Locke. Nghiên cứu sẽ đi sâu vào các khía cạnh mà Locke nhấn mạnh, bao gồm sự phụ thuộc mù quáng vào người khác, ảnh hưởng của cảm xúc và lợi ích cá nhân, sự thiếu toàn diện trong việc xem xét vấn đề, cũng như vai trò của thói quen và sự lười biếng trong việc cản trở sự phát triển của trí tuệ. Bằng cách phân tích những “lầm lỗi” và “khiếm khuyết” trong cách sử dụng lý tính, bài viết hướng tới việc làm rõ các giải pháp mà Locke đề xuất để rèn luyện tư duy khách quan, độc lập và toàn diện, từ đó nâng cao khả năng tiếp cận chân lý trong các lĩnh vực khác nhau của tri thức và đời sống.2026-02-28T00:00:00+00:00Copyright (c) 2026 Tạp chí Khoa học Đại học Đông Áhttps://js.donga.edu.vn/index.php/daujs/article/view/554Ảnh hưởng của bổ sung chiết xuất một số thảo dược họ hành (Alliaceae) lên men probiotic vào nước uống hàng ngày đến các đặc tính lý hóa, cảm quan và độ ổn định oxy hóa của thịt gà2026-01-23T03:03:31+00:00Phan HảiThạc sĩ Hoàng ChungNgô LaiĐặng SơnNguyễn LâmNghiên cứu này được thực hiện nhằm đánh giá ảnh hưởng của việc bổ sung chiết xuất củ kiệu (Allium chinense) hoặc/và củ hành tăm (Allium schoenoprasum) lên men probiotic (Lactobacillus plantarum 1582 và Bacillus subtilis BSn5) vào nước uống hàng ngày đến các đặc tính lý hóa, cảm quan và độ ổn định oxy hóa của thịt đùi của gà. Tổng số 120 gà thịt Rilai được phân bố ngẫu nhiên vào 4 nghiệm thức với 5 lần lại, gồm: ĐC (đối chứng); KLM (bổ sung 0,3% chiết xuất củ kiệu lên men); HTLM (bổ sung 0,3% chiết xuất củ hành tăm lên men); và KHLM (bổ sung 0,3% chiết xuất hành tăm và kiệu lên men). Ở tuần tuổi thứ 10, các chỉ tiêu lý hóa, cảm quan, thành phần dinh dưỡng và độ ổn định oxy hóa của các mẫu thịt đùi được phân tích. Kết quả cho thấy các NT bổ sung KLM và HTLM cải thiện đáng kể khả năng giữ nước và giảm độ rỉ dịch so với nhóm đối chứng (P < 0,05). Đánh giá cảm quan cho thấy sự cải thiện về mùi, độ mềm và màu sắc, đặc biệt ở nhóm HTLM. Độ ổn định oxy hóa được cải thiện rõ rệt thông qua giá trị TBARS giảm và tăng hàm lượng phenolic tổng số và hoạt tính DPPH, trong khi ABTS•+ không thay đổi. Nhìn chung, chiết xuất củ hành tăm lên men là phụ gia thảo dược tiềm năng trong việc nâng cao chất lượng và ổn định oxy hóa của thịt trong bối cảnh giảm sử dụng kháng sinh trong chăn nuôi gà.2026-02-28T00:00:00+00:00Copyright (c) 2026 Tạp chí Khoa học Đại học Đông Á