https://js.donga.edu.vn/index.php/daujs/issue/feedTạp chí Khoa học Trường Đại học Đông Á2026-08-29T10:29:26+00:00Tạp chí Khoa học Trường Đại học Đông Átapchikh@donga.edu.vnOpen Journal Systems<div id="text-124540630" class="text"> <p>Tạp chí Khoa học Đại học Đông Á là một tạp chí trực thuộc Trường Đại học Đông Á.</p> <p>Tạp chí được Bộ Thông tin và Truyền thông cấp Giấy phép hoạt động cho tạp chí in:<strong> Số</strong> <strong>625/GP-BTTTT</strong>, ngày <strong>22/09/2021.</strong></p> <p>Ngày <strong>28/04/2022</strong>, Tạp chí được Cục Thông tin khoa học và Công nghệ Quốc gia, Bộ Khoa học và Công nghệ cấp mã số chuẩn quốc tế ISSN (International Standard Serial Number) với dãy số ISSN: <strong>2815-5807.</strong></p> </div> <div id="text-3048248437" class="text"> <p>Các lĩnh vực nhận bài chính của Tạp chí Khoa học Đại học Đông Á bao gồm:</p> <ul> <li>Khoa học tự nhiên</li> <li>Khoa học kỹ thật và công nghệ</li> <li>Khoa học y, dược</li> <li>Khoa học nông nghiệp</li> <li>Khoa học xã hội</li> <li>Khoa học nhân văn</li> </ul> </div>https://js.donga.edu.vn/index.php/daujs/article/view/520Thực trạng kiểm soát glucose máu và một số yếu tố liên quan ở bệnh nhân đái tháo đường týp 2 kèm tăng huyết áp tại Bệnh viện Đa khoa Trà Vinh2025-10-17T03:43:03+00:00Phạm Thị Kim YếnNguyễn Thiện Minh Nguyễn Thiện MinhNguyễn Thị Ngọc Ngoan Nguyễn Thị Ngọc NgoanBùi Thị Kim Tuyến Bùi Thị Kim TuyếnThạch Thị Mỹ Phương Thạch Thị Mỹ PhươngĐái tháo đường là một bệnh lý rối loạn chuyển hóa phổ biến, đặc biệt khi đi kèm với tăng huyết áp làm gia tăng nguy cơ biến chứng tim mạch, thận và mắt. Nghiên cứu được thực hiện từ tháng 5 năm 2024 đến tháng 8 năm 2024 trên 411 bệnh nhân đái tháo đường týp 2 có tăng huyết áp điều trị ngoại trú tại Bệnh viện Đa khoa Trà Vinh nhằm đánh giá thực trạng kiểm soát glucose máu và một số yếu tố liên quan. Kết quả cho thấy, tỷ lệ bệnh nhân kiểm soát glucose máu đạt mục tiêu là 40,39%, trong khi 59,61% chưa đạt. Các yếu tố có liên quan có ý nghĩa thống kê đến kiểm soát glucose máu bao gồm trình độ học vấn, thời gian mắc bệnh, hút thuốc lá, sử dụng rượu/bia và tuân thủ dùng thuốc. Từ kết quả nghiên cứu, cần tăng cường các biện pháp can thiệp cụ thể như: đẩy mạnh giáo dục sức khỏe cho bệnh nhân có trình độ học vấn thấp; tư vấn thay đổi hành vi nguy cơ (cai thuốc lá, hạn chế rượu bia); nâng cao tuân thủ dùng thuốc thông qua theo dõi và hỗ trợ của nhân viên y tế; đồng thời tăng cường quản lý và theo dõi định kỳ nhằm cải thiện hiệu quả kiểm soát glucose máu ở nhóm bệnh nhân này.2026-08-29T00:00:00+00:00Copyright (c) 2026 Tạp chí Khoa học Đại học Đông Áhttps://js.donga.edu.vn/index.php/daujs/article/view/540Thực trạng trầm cảm và một số yếu tố liên quan ở người dân đã từng mắc Covid-19 ở xã Sơn Tịnh2026-05-07T01:40:09+00:00Đỗ Văn DiệuVõ Thanh Tân Võ Thanh TânĐỗ Vũ Trịnh ĐạtHuỳnh Thanh Phúc Huỳnh Thanh PhúcĐỗ Duy Thanh Đỗ Duy ThanhMở đầu: Trầm cảm hiện nay rất phổ biến, trầm cảm hậu COVID-19 cùng các yếu tố liên quan hiện là vấn đề sức khỏe cộng đồng đáng quan tâm. Mục tiêu: Xác định tỷ lệ trầm cảm ở người đã từng mắc bệnh COVID-19 tại xã Sơn Tịnh bằng thang đo PHQ-9. Tìm hiểu một số yếu tố liên quan đến trầm cảm ở đối tượng nghiên cứu. Đối tượng và phương pháp: Nghiên cứu mô tả cắt ngang - hồi cứu được thực hiện trên 340 người dân mắc COVID-19 trên địa bàn xã Sơn Tịnh, tỉnh Quảng Ngãi; sử dụng thang đo PHQ-9, kiểm định các yếu tố liên quan bằng hồi qui logistic với khoảng tin cậy 95%CI với p < 0,05. Kết quả: Tỷ lệ trầm cảm 34,1%. Trong đó: trầm cảm nặng (PHQ-9 > 19) 0,9%; trầm cảm vừa (15 ≤ PHQ-9 ≤ 19) 2,6%; trầm cảm nhẹ (10 ≤ PHQ-9 < 15) 8,5%; trầm cảm tối thiểu (PHQ-9 <5) 22,1%. Có 6 yếu tố liên quan: thời gian mắc COVID-19 đã trên 3 tháng (OR = 16,1; 95%CI: 2,7-99,2; p = 0,002); mắc COVID-19 có nằm viện trầm cảm cao gấp 5,9 lần so với không nằm viện (OR = 5,9; 95%CI: 2,2-15,9; p < 0,001); hỗ trợ xã hội (OR = 4,5; 95%CI: 2,3-8,9; p < 0,001); bệnh mạn tính (OR = 2,9; 95 % CI: 1,037-8,381; p = 0,042); Lo lắng xa cách người thân khi bị cách ly (OR = 2,8; 95%CI: 1,3-5,9; p = 0,008). Tuổi (OR = 1,04; 95% CI: 1,006-1,074; p = 0,019); Kết luận: Trầm cảm 34,1%. Trong đó, trầm cảm tối thiểu 22,1% và trầm cảm nhẹ 8,5%; trầm cảm vừa 2,6% và trầm cảm nặng 0,9%. Mắc bệnh COVID-19 3 tháng trở lên trầm cảm cao gấp 16,1 lần; Măc COVID-19 có nằm viện trầm cảm cao gấp 5,9 lần so với không nằm viện; hỗ trợ xã hội cao trầm cảm cao gấp 4,5 lần; mắc từ 1 bệnh mạn tính trở xuống trầm cảm cao gấp 2,9 lần so với mắc từ 2 bệnh mạn tỉnh trở lên; lo lắng xa cách người thân khi bị cách ly trầm cảm cao gấp 2,8 lần so với không lo lắng; nhóm 15-59 tuổi trầm cảm cao gấp 1,04 lần.2026-08-29T00:00:00+00:00Copyright (c) 2026 Tạp chí Khoa học Đại học Đông Áhttps://js.donga.edu.vn/index.php/daujs/article/view/592Phân loại đại số Lie bất khả quy 6 chiều lớp MD có Ideal dẫn xuất với số chiều không quá 22026-04-16T09:27:24+00:00TRẦN AN HẢINguyễn Văn AnTrong bài báo này, chúng tôi phân loại đại số Lie bất khả quy 6 chiều thuộc lớp MD có ideal dẫn xuất với số chiều không quá 2. Đồng thời chúng tôi cũng chứng minh rằng số chiều của ideal dẫn xuất của các đại số Lie này phải bằng 2.2026-08-29T00:00:00+00:00Copyright (c) 2026 Tạp chí Khoa học Đại học Đông Áhttps://js.donga.edu.vn/index.php/daujs/article/view/594Hát bội trong lễ hội cộng đồng ở vùng duyên hải Nam Trung Bộ: Sắc thái văn hóa và quá trình thích ứng2026-05-25T04:18:48+00:00Nguyễn Thị Thanh XuyênT Lương TìnhHát bội là loại hình nghệ thuật sân khấu đặc sắc thể hiện dấu ấn văn hóa độc đáo của vùng duyên hải Nam Trung Bộ. Trải qua nhiều thăng trầm, sự tồn tại và phát triển của hát bội là minh chứng cho các giá trị, chuẩn mực và thẩm mỹ được chắt lọc và hun đúc từ đời sống tinh thần, phương ngữ, thị hiếu và văn hóa ứng xử của cộng đồng cư dân duyên hải Nam Trung Bộ. Thông qua quá trình điền dã dân tộc học (phỏng vấn sâu và quan sát tham gia) tại một số địa phương như Đà Nẵng, Gia Lai, Khánh Hòa và Lâm Đồng trong năm 2025, bài viết này phân tích sắc thái văn hóa và sự thích ứng của hát bội trong không gian lễ hội cộng đồng ở vùng duyên hải Nam Trung Bộ. Những phát hiện này là cơ sở để nhìn nhận hát bội trong tính thống nhất và đa dạng, quá trình vận động và hội nhập giá trị nghệ thuật hát bội vào đời sống đương đại, cung cấp góc nhìn tham chiếu cho quá trình bảo vệ và gìn giữ nghệ thuật hát bội.2026-08-29T00:00:00+00:00Copyright (c) 2026 Tạp chí Khoa học Đại học Đông Áhttps://js.donga.edu.vn/index.php/daujs/article/view/547Địa thể hàng hải miền Trung Việt Nam thời tiền hiện đại2025-12-25T02:23:26+00:00Trần Đức Anh SơnBài viết đề xuất khái niệm địa thể hàng hải xem xét lại lịch sử miền Trung Việt Nam trong thời tiền hiện đại khác với quan điểm sử học truyền thống. Thay vì xem miền Trung là “vùng biên ải” phía nam, được sáp nhập dần vào lãnh thổ Đại Việt theo diễn trình Nam tiến của người Việt, bài viết cho rằng miền Trung Việt Nam vốn là một không gian gắn bó với biển, được định hình chủ yếu bởi các tuyến hàng hải, cảng thị, cửa sông và mạng lưới giao thương liên vùng. Kế thừa khái niệm địa thể của Thongchai Winichakul, bài viết mở rộng cách tiếp cận từ lãnh thổ đất liền sang không gian biển, xem biển không phải ranh giới mà là môi trường kết nối kinh tế, văn hóa và chính trị. Theo đó, Champa là cho giai đoạn hình thành địa thể hàng hải của miền Trung, mang đặc điểm của một thể chế biển dựa trên khai thác biển, hải thương và mạng lưới giao thương kết nối miền biển với vùng cao. Tiếp đến, quá trình Việt hóa miền Trung dưới thời các chúa Nguyễn là sự tiếp nhận, tái cấu trúc và thể chế hóa địa thể hàng hải sẵn có, hình thành một không gian khác kinh tế - chính trị mang đặc trưng của thể chế biển và kết nối chặt chẽ với lục địa. Bài viết áp dụng lý thuyết địa thể hàng hải để xem xét lại quan điểm dùng lãnh thổ đất liền để định hình lịch sử miền Trung, làm rõ bản sắc riêng của khu vực này và góp phần tái tư duy về quá trình hình thành nhà nước Việt Nam thời tiền hiện đại.2026-08-29T00:00:00+00:00Copyright (c) 2025 Tạp chí Khoa học Đại học Đông Áhttps://js.donga.edu.vn/index.php/daujs/article/view/464Đại Nam nhất thống chí qua cách tiếp cận văn bản học và địa danh học lịch sử2025-09-11T07:38:14+00:00Nguyễn Thị Oanh Nguyễn Thị OanhĐại Nam nhất thống chí là bộ quốc chí viết bằng chữ Hán, chữ Nôm ghi chép về địa lý các tỉnh và thành phố toàn Việt Nam được biên soạn dưới triều Nguyễn. Điểm mới của bài viết là đã làm rõ thành tựu và hạn chế của các công trình dịch thuật sách Đại Nam nhất thống chí đi trước, ở chỗ các nhà nghiên cứu và dịch giả đi trước đều chưa coi bản chép tay A.69/12 là đối tượng nghiên cứu chuyên biệt nên đã bỏ qua nhiều nội dung ghi chép được các sử quan bổ sung viết đài lên trên khi biên soạn. Đồng thời qua nghiên cứu đặc điểm văn bản và giá trị của một số đoạn ghi chép về địa danh lịch sử trong bản chép tay A.69/12 - Trọng tâm là trường hợp xã An Vĩnh (Lý Sơn, Quảng Ngãi) và địa danh Quỷ Môn quan (Chi Lăng, Lạng Sơn) ở các đoạn chú thích viết đài lên trên phần chính văn của bản chép tay A.69/1-12, từ đó làm sáng tỏ vai trò của xã An Vĩnh trong công cuộc bảo vệ biển đảo và vị trí của Quỷ Môn Quan trên tuyến đường bộ Trung Quốc - Việt Nam trong lịch sử, đồng thời khẳng định giá trị quan trọng của bộ địa chí đối với việc nghiên cứu lịch sử, địa lý, văn hóa, tôn giáo, tín ngưỡng... Việt Nam trong quá khứ.2026-08-29T00:00:00+00:00Copyright (c) 2026 Tạp chí Khoa học Đại học Đông Áhttps://js.donga.edu.vn/index.php/daujs/article/view/601Nho giáo trong quá trình Trung Quốc hóa chủ nghĩa Marx dưới thời Tập Cận Bình2026-06-01T01:48:13+00:00Nguyễn Quang AnhDưới thời Tập Cận Bình, việc kế thừa và phát huy văn hóa truyền thống Trung Hoa, đặc biệt là các yếu tố Nho giáo, trở thành một nội dung quan trọng trong quá trình Trung Quốc hóa chủ nghĩa Marx. Tuy nhiên, cơ chế tái diễn giải và tích hợp Nho giáo vào hệ tư tưởng của Đảng Cộng sản Trung Quốc (ĐCSTQ) vẫn chưa được nghiên cứu một cách hệ thống. Bài viết phân tích cách ĐCSTQ, với Tập Cận Bình là hạt nhân lãnh đạo, tái diễn giải, tích hợp và vận dụng các yếu tố Nho giáo trong giai đoạn 2013-2026. Nghiên cứu sử dụng phương pháp định tính, kết hợp phân tích nội dung, phân tích lịch sử - so sánh và phân tích chính sách trên cơ sở 22 phát biểu, văn kiện chính thức của Tập Cận Bình cùng các văn kiện của Đảng, văn bản pháp luật và tài liệu liên quan. Kết quả cho thấy các giá trị Nho giáo được tái diễn giải theo định hướng của chủ nghĩa xã hội đặc sắc Trung Quốc và từng bước được thể chế hóa trong pháp luật, giáo dục, quản trị xã hội và đối ngoại. Nghiên cứu cho rằng đây là quá trình tích hợp có chọn lọc, góp phần mở rộng nguồn lực văn hóa của hệ tư tưởng và củng cố tính chính danh của ĐCSTQ.2026-08-29T00:00:00+00:00Copyright (c) 2026 Tạp chí Khoa học Đại học Đông Á